1. Xác định lô trước khi chọn thanh
Một chuyến xe có thể chở nhiều quy cách, mẻ sấy hoặc nhóm chất lượng. Không nên gộp tất cả thành một lô đồng nhất chỉ vì cùng ngày giao. Cần chốt ranh giới lô theo hồ sơ và mục đích kiểm, rồi có danh sách kiện hoặc đơn vị để chọn.
Đơn vị kiểm có thể là thanh, kiện hoặc cấu kiện tùy đặc tính; số lần đo trên cùng thanh không tự là số thanh mẫu. Nếu đo 5 vị trí trên một thanh, không báo thành đã kiểm 5 thanh. Nhận diện này rất quan trọng khi so báo cáo của hai bên.
Theo cách tiếp cận lấy mẫu nghiệm thu, mục tiêu chủ yếu là hỗ trợ quyết định về lô theo một kế hoạch, không phải tự ước tính chính xác chất lượng toàn lô. Công việc kiểm soát quá trình và điều tra nguyên nhân vẫn cần dữ liệu riêng.
2. Chốt kế hoạch, không chỉ số lượng mẫu
| Phần | Cần xác định | Điều cần tránh |
|---|---|---|
| Mục tiêu | Nghiệm thu, khảo sát hoặc điều tra | Dùng một kết quả cho mọi mục đích |
| Đối tượng | Lô, nhóm, đơn vị và danh sách chọn | Bỏ các kiện khó tiếp cận khỏi phạm vi mà không ghi |
| Cách chọn | Ngẫu nhiên hoặc bố trí theo phương án phù hợp | Chọn toàn thanh đẹp hoặc toàn thanh nghi ngờ rồi gọi đại diện |
| Phép kiểm | Đặc tính, phương pháp, dụng cụ và thời điểm | Trộn các phương pháp không tương đương |
| Quyết định | Ngưỡng, bước tiếp theo và người có trách nhiệm | Đổi quy tắc sau khi xem kết quả |
Nếu dẫn một tiêu chuẩn lấy mẫu, phải xác định đúng phạm vi, phiên bản và các điều kiện chọn kế hoạch; không chỉ chép một cỡ mẫu từ bảng trên mạng. Không nên coi một ký hiệu AQL là lời bảo đảm rằng mọi lô chỉ có đúng hoặc tối đa một tỷ lệ lỗi như người đọc suy đoán.
3. Ví dụ nhận diện mẫu theo kiện
Giả sử lô đã được xác nhận gồm 10 kiện, mỗi kiện đúng 100 thanh có nhận diện. Một bố trí khảo sát minh họa chọn 2 thanh khác nhau trong mỗi kiện, theo cách chọn đã ghi, sẽ có 20 thanh. Đây là ví dụ tổ chức truy vết, không phải cỡ mẫu nghiệm thu được đề xuất.
Nếu thực tế số thanh giữa kiện khác nhau, việc chọn cùng 2 thanh/kiện không còn là cùng tỷ lệ ở mỗi kiện. Cần xem lại mục tiêu và cách thiết kế chọn mẫu trước khi suy rộng. Những thanh ở phía trong cũng phải nằm trong phạm vi tiếp cận nếu kế hoạch yêu cầu, không tự thay bằng thanh ngoài cùng thuận tiện.
Danh sách nên có mã kiện, mã thanh hoặc vị trí nhận diện, thời điểm chọn và người chọn. Nếu phải thay mẫu do không tiếp cận được, ghi việc thay và lý do để người đánh giá biết đã xảy ra điều gì.
4. Đếm thanh không phù hợp khác đếm số lỗi
Ví dụ kiểm 20 thanh: thanh A thiếu chiều dày và xoắn, thanh B thiếu chiều dày, các thanh còn lại không ghi nhận lỗi theo phạm vi đã kiểm. Có 3 sự kiện lỗi nhưng chỉ 2 thanh không phù hợp. Tỷ lệ đơn vị không phù hợp quan sát trong mẫu là 2/20 = 10%.
Phép 3/20 = 0,15 biểu diễn số sự kiện lỗi trên mỗi đơn vị theo cách đếm của ví dụ, không phải 15% thanh không phù hợp. Muốn dùng chỉ số nào, phải nêu từ trước và dùng đúng quy tắc của kế hoạch. Không đổi giữa hai cách đếm để đạt ngưỡng mong muốn.
Ngay cả khi không thấy lỗi trong mẫu, không thể kết luận lô chắc chắn không có lỗi. Kết luận nhận hoặc không nhận cần theo kế hoạch đã xác định, với giới hạn và rủi ro của cách lấy mẫu đó.
5. Giữ dữ liệu cá thể và phạm vi đã kiểm
Với kích thước hoặc độ ẩm, lưu từng trị số và mã mẫu trước khi tổng hợp. Mục tiêu khác nhau có thể cần cách đánh giá theo biến đo hoặc theo phân loại; không chuyển mọi số đo thành một cột đạt mà mất dữ liệu gốc.
Trường hợp phát hiện dấu hiệu bất thường, có thể cần kiểm thêm theo quyết định phù hợp. Phần kiểm bổ sung để điều tra phải được nhận diện, không cộng lẫn vào mẫu ban đầu rồi báo như một kế hoạch đã giữ nguyên. Nếu áp dụng kế hoạch nhiều giai đoạn, tuân theo quy tắc đã chốt của chính kế hoạch ấy.
Phương án kiểm phải xem cả khả năng tiếp cận và thao tác an toàn khi mở kiện. Không yêu cầu người lấy mẫu trèo hoặc dịch chuyển kiện ngoài quy trình để cố đủ một con số đã chọn thiếu thực tế.
6. Kết nối lấy mẫu với xử lý lô
Báo cáo cần nói rõ kết luận áp cho lô nào, đặc tính nào và còn phần nào chưa đánh giá. Nếu lô được phân lại sau xử lý, tạo nhận diện mới nối với hồ sơ cũ. Không dùng kết quả mẫu trước xử lý để tự xác nhận kết quả sau.
Với gỗ keo xẻ và gỗ keo sấy, tách quy cách và trạng thái vật liệu khi cần. Với pallet, đơn vị kiểm nguyên liệu và kiểm pallet hoàn chỉnh không giống nhau.
Lấy 10% lô có luôn đủ? Không có tỷ lệ chung được xác nhận trong bài; cần kế hoạch theo mục tiêu và đặc tính.
Kiểm các thanh nghi ngờ có ích không? Có ích cho điều tra, nhưng phải ghi đúng cách chọn và giới hạn kết luận. Xem tiếp biên bản nghiệm thu.
Nguồn và phạm vi sử dụng
Nguồn kỹ thuật được dẫn để tra thuật ngữ, nguyên lý và phạm vi đánh giá. Các bảng, ví dụ số học và cách tổ chức hồ sơ do LEFAMI biên soạn; không phải ngưỡng chất lượng mặc định, kế hoạch lấy mẫu tiêu chuẩn hay mẫu điều khoản pháp lý. Yêu cầu đơn hàng, phương pháp, tiêu chí và phạm vi quyết định cần được các bên xác nhận riêng.
Đọc tiếp theo chủ đề
- Mắt sống, mắt chết và mắt rơi: mô tả khi đặt hàng
- Phân biệt nứt đầu, nứt mặt và nứt xuyên
- Cong cung, cong cạnh, xoắn và lòng máng là gì?
- Gỗ keo sấy: Cẩm nang độ ẩm, kiểm tra chất lượng và đặt mua sỉ
