1. Một chữ “độ ẩm”, ba thông tin khác nhau
Khi trao đổi tại xưởng, hãy phân biệt độ ẩm của gỗ, độ ẩm tương đối của không khí và kết quả hiển thị của thiết bị đo. Chúng liên quan với nhau nhưng không thể thay thế nhau. Một cảm biến môi trường ghi 70% RH không nói rằng thanh gỗ có độ ẩm 70%.
Số đo bằng máy cầm tay còn gắn với nguyên lý, cài đặt vật liệu và cách sử dụng. Muốn so hai biên bản, cần biết cả hai đang kiểm đại lượng nào, bằng phương pháp nào, ở đâu và lúc nào. Không nên tranh luận chỉ bằng hai con số chưa có bối cảnh.
2. Công thức theo cơ sở khô
Gọi m₁ là khối lượng mẫu khi lấy kiểm, m₀ là khối lượng gỗ khô kiệt xác định theo phương pháp thử phù hợp. Khi đó MC = (m₁ − m₀) ÷ m₀ × 100%. Phần chênh m₁ − m₀ là khối lượng nước được xác định theo cơ sở phép thử.
Phép cân cần dùng cùng đơn vị. Nếu có khay, hộp hoặc vật giữ mẫu, phải xử lý khối lượng bì đúng cách. Công thức không thay thế việc chuẩn bị mẫu, kiểm soát thiết bị và xác định khối lượng ổn định. Các mẫu có thành phần khác gỗ cần được xem theo phạm vi phương pháp.
| Mẫu | m₁ | m₀ | Phép tính | MC |
|---|---|---|---|---|
| A | 120 g | 100 g | 20 ÷ 100 × 100% | 20% |
| B | 112 g | 100 g | 12 ÷ 100 × 100% | 12% |
| C | 250 g | 100 g | 150 ÷ 100 × 100% | 150% |
3. Vì sao kết quả có thể lớn hơn 100%?
Mẫu số là khối lượng gỗ khô, không phải tổng khối lượng gỗ và nước lúc đầu. Khi lượng nước lớn hơn phần khô, tỷ số có thể vượt 100%. Điều này khác cách biểu thị phần nước theo tổng khối lượng ướt. Hai cơ sở phải được phân biệt ngay trong tiêu đề hoặc chú thích bảng.
Với mẫu A ở trên, nếu lấy 20 ÷ 120 thì được khoảng 16,67% theo cơ sở ướt. Đây không phải cùng cách biểu thị với MC 20% cơ sở khô. Nếu một bảng của khách dùng cơ sở khác, cần làm rõ rồi mới quy đổi; không tự đổi tên chỉ tiêu nhưng giữ nguyên con số.
4. Đọc số liệu của nhiều mẫu
Trung bình các MC riêng và tỷ lệ nước tổng trên khối lượng khô tổng có thể khác nhau khi các mẫu có khối lượng khô khác nhau. Chẳng hạn một mẫu có 100 g khô ở MC 10% và mẫu khác có 200 g khô ở MC 20%. Trung bình hai tỷ lệ là 15%; tỷ lệ theo tổng khối lượng là 50 ÷ 300 × 100% ≈ 16,67%.
Không nên tự chọn cách cho kết quả thuận lợi. Kế hoạch thử cần nói cách tổng hợp và tiêu chí kết luận. Đối với một yêu cầu kiểm từng thanh, số trung bình của nhóm cũng không tự bù được một thanh ngoài giới hạn.
5. Ghi gì trong yêu cầu mua hàng?
- Giá trị mục tiêu hay khoảng chấp nhận, có áp cho từng mẫu hay chỉ tiêu tổng hợp nào.
- Phương pháp đo, loại thiết bị hoặc phương pháp đối chiếu được chấp nhận.
- Vị trí, số lượng mẫu và thời điểm kiểm: sau sấy, trước giao hay khi nhận.
- Điều kiện lưu giữ giữa kiểm tra và giao; cách xử lý khi hai bên có kết quả khác nhau.
Mục tiêu độ ẩm dưới 12% trong mô tả tuyến cọc LEFAMI là thông tin của sản phẩm đã xác nhận, không phải chỉ tiêu chung cho tất cả gỗ xẻ, pallet hoặc mọi môi trường sử dụng. Những sản phẩm khác cần thống nhất theo ứng dụng và khả năng kiểm tra thực tế.
6. Câu hỏi thường gặp
MC 12% có nghĩa 100 kg gỗ giao chứa 12 kg nước không?
Không theo cơ sở khô. Nếu tổng khối lượng là 112 kg và phần khô là 100 kg, lượng nước mới là 12 kg và MC là 12%. Luôn xác định khối lượng đang nói đến trước khi tính.
Máy đo hiển thị 12% đã đủ để nghiệm thu chưa?
Chưa thể kết luận nếu chưa rõ cài đặt, cách đo, phạm vi mẫu và tiêu chí đơn hàng. Số hiển thị là một phần của hồ sơ kiểm, không thay toàn bộ kế hoạch nghiệm thu.
Nguồn và phạm vi sử dụng
Phần giải thích thuật ngữ tham khảo tài liệu nền được dẫn. Bảng tính, tình huống và cách chuẩn bị yêu cầu là ví dụ biên tập của LEFAMI; không sao chép định mức hoặc tiêu chuẩn nước ngoài để áp cho mọi lô gỗ. Thông số đơn hàng và quy trình tại xưởng cần được xác nhận riêng.
Đọc tiếp theo chủ đề
- Độ ẩm cân bằng của gỗ và môi trường sử dụng
- Phân biệt sấy tự nhiên và sấy trong lò
- Sấy hơi nước: các thông số cần theo dõi
- Gỗ keo sấy: Cẩm nang độ ẩm, kiểm tra chất lượng và đặt mua sỉ
- Phân biệt phôi xẻ tươi, phôi khô thô và phôi bào tinh
